Quy định về đánh giá, xếp loại học sinh Tiểu học

12/02/2009 12:00 Sáng 0 phản hồi

ĐÁNH GIÁ VÀ XẾP LOẠI HẠNH KIỂM
ĐÁNH GIÁ VÀ XẾP LOẠI HỌC LỰC

ĐÁNH GIÁ VÀ XẾP LOẠI HẠNH KIỂM
Điều 4. Nội dung đánh giá
Học sinh được đánh giá về hạnh kiểm theo kết quả thực hiện bốn nhiệm vụ của học sinh tiểu học được quy định cụ thể như sau:
1. Biết vâng lời thầy giáo, cô giáo; lễ phép trong giao tiếp hằng ngày; đoàn kết, thương yêu, giúp đỡ bạn bè.
2. Thực hiện nội quy nhà trường; đi học đều và đúng giờ; tích cực tham gia các hoạt động học tập; giữ gìn sách vở và đồ dùng học tập.
3. Giữ gìn vệ sinh cá nhân; đầu tóc, quần áo gọn gàng, sạch sẽ; ăn uống hợp vệ sinh.
4. Tham gia các hoạt động tập thể trong và ngoài giờ lên lớp của trường, của lớp; giữ gìn, bảo vệ tài sản của trường, lớp và nơi công cộng; bước đầu biết giữ gìn và bảo vệ môi trường, thực hiện các quy tắc về an toàn giao thông và trật tự xã hội.
Điều 5. Cách đánh giá
1. Học sinh thực hiện đầy đủ bốn nhiệm vụ của học sinh tiểu học theo quy định đánh giá bằng nhận xét được ghi là thực hiện đầy đủ (Đ).
2. Học sinh chưa thực hiện đầy đủ bốn nhiệm vụ của học sinh tiểu học theo quy định đánh giá bằng nhận xét được ghi là thực hiện chưa đầy đủ (CĐ).
3. Giáo viên ghi nhận xét cụ thể những điểm mà học sinh chưa thực hiện được vào sổ theo dõi của giáo viên để có kế hoạch giúp đỡ và động viên học sinh tự tin trong rèn luyện. Giáo viên có thể gặp riêng cha mẹ học sinh để bàn bạc, trao đổi, thống nhất các biện pháp phối hợp giáo dục học sinh.
Điều 6. Thời điểm đánh giá
Học sinh được đánh giá hạnh kiểm vào cuối học kì I và cuối năm học. Đánh giá là hoạt động thường xuyên của giáo viên, giáo viên cần chú ý đến quá trình tiến bộ của học sinh. Đánh giá cuối năm là quan trọng nhất.
Chương III
ĐÁNH GIÁ VÀ XẾP LOẠI HỌC LỰC
Điều 7. Đánh giá bằng điểm số
1. Các môn học đánh giá bằng điểm số gồm: Toán, Tiếng Việt, Khoa học, Lịch sử và Địa lý, Tiếng nước ngoài, Tiếng dân tộc, Tin học và các nội dung tự chọn.
2. Các môn học đánh giá bằng điểm số cho điểm từ 1 đến 10, không cho điểm 0 và các điểm thập phân ở các lần kiểm tra.
Điều 8. Đánh giá bằng nhận xét
1. Các môn học đánh giá bằng nhận xét gồm:
a) Ở các lớp 1, 2 , 3: Đạo đức, Thể dục, Tự nhiên và Xã hội, Nghệ thuật.
b) Ở các lớp 4 , 5: Đạo đức, Thể dục, Âm nhạc, Mĩ thuật, Kĩ thuật.
2. Các môn học đánh giá bằng nhận xét được đánh giá theo hai mức :
a) Loại Hoàn thành ( A ): đạt được yêu cầu cơ bản về kiến thức và kĩ năng của môn học, đạt được từ 50% số nhận xét trở lên trong từng học kì hay cả năm học. Những học sinh đạt loại Hoàn thành nhưng có biểu hiện rõ về năng lực học tập môn học, đạt 100% số nhận xét trong từng học kì hay cả năm học được giáo viên đánh giá là Hoàn thành tốt ( A+) và ghi nhận xét cụ thể trong học bạ để nhà trường có kế hoạch bồi dưỡng.
b) Loại Chưa hoàn thành ( B ): chưa đạt những yêu cầu theo quy định, đạt dưới 50% số nhận xét trong từng học kì hay cả năm học.
Việc đánh giá bằng nhận xét cần nhẹ nhàng, không tạo áp lực cho cả giáo viên và học sinh. Đối với môn học đánh giá bằng nhận xét cần quan niệm là sự khơi dậy tiềm năng học tập của học sinh.
Điều 9. Đánh giá thường xuyên
1. Việc đánh giá thường xuyên được thực hiện ở tất cả các tiết học theo quy định của chương trình nhằm mục đích theo dõi, động viên, khuyến khích hay nhắc nhở học sinh học tập tiến bộ, đồng thời để giáo viên thực hiện đổi mới phương pháp, điều chỉnh hoạt động giảng dạy, hoạt động giáo dục nhằm đạt hiệu quả thiết thực.
2. Việc đánh giá thường xuyên được tiến hành dưới các hình thức kiểm tra thường xuyên (KTTX), gồm: kiểm tra miệng, quan sát học sinh học tập hoặc hoạt động, bài tập thực hành, kiểm tra viết (dưới 20 phút).
3. Số lần KTTX tối thiểu cho các môn học trong một tháng như sau:
a) Môn Tiếng Việt có 4 lần;
b) Môn Toán có 2 lần;
c) Môn Khoa học, các môn học và nội dung tự chọn khác có 1 lần;
d) Môn Lịch sử và Địa lí, mỗi phân môn có 1 lần;
e) Các môn (phân môn) còn lại thực hiện theo quy định đánh giá bằng nhận xét được hướng dẫn cụ thể tại Sổ theo dõi kết quả kiểm tra, đánh giá học sinh tiểu học.
Điều 10. Đánh giá định kì
1. Việc đánh giá định kì kết quả học tập của học sinh được tiến hành sau từng giai đoạn học tập (giữa học kì I, cuối học kì I, giữa học kì II, cuối học kì II). Đánh giá định kì nhằm mục đích cung cấp thông tin cho các cấp quản lí chỉ đạo để quản lí quá trình học tập của học sinh và giảng dạy của giáo viên.
2. Việc đánh giá định kì được tiến hành dưới các hình thức kiểm tra định kì (KTĐK), gồm:
a) Kiểm tra miệng, quan sát học sinh học tập hoặc hoạt động, bài tập thực hành đối với các môn đánh giá bằng nhận xét;
b) Kiểm tra viết bằng hình thức trắc nghiệm, tự luận trong thời gian 1 tiết đối với các môn đánh giá bằng điểm số.
3. Số lần kiểm tra định kì cho các môn học như sau:
a) Môn Tiếng Việt, môn Toán mỗi năm học có 4 lần KTĐK vào giữa học kì I (GKI), cuối học kì I (CKI), giữa học kì II (GKII) và cuối học kì II (CKII);
b) Môn Khoa học, môn Lịch sử và Địa lí, các môn học và nội dung tự chọn khác mỗi năm học có 2 lần KTĐK vào CKI và CKII;
c) Các môn (phân môn) còn lại thực hiện theo quy định đánh giá bằng nhận xét (được hướng dẫn cụ thể tại Sổ theo dõi kiểm tra kết quả, đánh giá học sinh tiểu học);
d) Trường hợp học sinh có kết quả KTĐK bất thường so với kết quả học tập hàng ngày hoặc không đủ số điểm KTĐK đều được bố trí cho làm bài kiểm tra lại để có căn cứ đánh giá về học lực môn và nhận xét khen thưởng.
Điều 11. Đánh giá và xếp loại học lực về từng môn học
Học sinh được xếp loại học lực môn học kì I (HLM.KI), học lực môn học kì II (HLM.KII) và học lực môn cả năm (HLM.N) ở tất cả các môn học.
1. Đối với các môn được đánh giá bằng điểm số
a) Xác định điểm học lực môn:
- Môn Tiếng Việt và môn Toán :
+ Điểm HLM.KI là trung bình cộng của điểm KTĐK.GKI và điểm KTĐK.CKI.
+ Điểm HLM.KII là trung bình cộng của điểm KTĐK.GKII và điểm KTĐK.CKII.
+ Điểm HLM.N là trung bình cộng của HLM.KI và HLM.KII.
- Môn Khoa học, môn Lịch sử và Địa lí, các môn học có nội dung tự chọn khác:
+ Điểm HLM.KI chính là điểm KTĐK.CKI.
+ Điểm HLM.KII chính là điểm KTĐK.CKII.
+ Điểm HLM.N là trung bình cộng của HLM.KI và HLM.KII.
b) Xếp loại học lực môn:
- Loại Giỏi: điểm học lực môn đạt từ 9 đến 10.
- Loại Khá: điểm học lực môn đạt từ 7 đến dưới 9.
- Loại Trung bình: điểm học lực môn đạt từ 5 đến dưới 7.
- Loại Yếu: điểm học lực môn đạt dưới 5.
2. Đối với các môn được đánh giá bằng nhận xét
- HLM.KI chính là kết quả đánh giá dựa trên các nhận xét đạt được trong học kì I.
- HLM.KIi chính là kết quả đánh giá dựa trên các nhận xét đạt được trong cả năm.
- HLM.N chính là HLM.KII.
Điều 12. Những qui định khác
1. Đối với các môn học:
a) Môn Tiếng Việt: mỗi lần KTĐK môn Tiếng Việt có 2 bài kiểm tra: Đọc, Viết. Điểm của 2 bài kiểm tra này được quy về 1 điểm chung là trung bình cộng điểm của 2 bài ( làm tròn 0,5 thành 1);
b) Môn Lịch sử và Địa lí: mỗi lần KTĐK môn Lịch sử và Địa lí có 2 bài kiểm tra: Lịch sử, Địa lí. Điểm của hai bài kiểm tra này được quy về một điểm chung là trung bình cộng của 2 bài (làm tròn 0,5 thành 1).
2. Đối với học sinh có hoàn cảnh khó khăn:
a) Đối với học sinh khuyết tật, tất cả các bài kiểm tra thường xuyên và kiểm tra định kì được lưu trữ thành hồ sơ học tập của học sinh. Học sinh khuyết tật học hòa nhập được đánh giá ở những môn học mà học sinh có khả năng theo học bình thường. Các môn học khác chỉ yêu cầu đánh giá dựa trên sự tiến bộ của chính học sinh;
b) Đối với học sinh lang thang cơ nhỡ ở các lớp tình thương có điều kiện chuyển sang các lớp chính quy được tổ chức kiểm tra 2 môn Toán, Tiếng Việt. Điểm trung bình của hai môn Toán, Tiếng Việt đạt 5 trở lên, không có điểm dưới 4 được xếp vào học lớp phù hợp hoặc được xác nhận học hết chương trình tiểu học.

Để lại phản hồi của bạn cho bài viết này